DLXH
Menu

Nghi lễ thờ lửa trong Phật giáo và tục đốt vàng mã của người Việt - Một số kiến nghị

04/02/2021 14:39:39

Nguồn gốc các nghi lễ thờ lửa trong Phật giáo và tục đốt vàng mã

Phật giáo ra đời ở Ấn Độ khoảng thế kỷ VI TCN, một số nghi lễ thờ lửa trong Phật giáo có nguồn gốc từ các tín ngưỡng Hindu giáo trong xã hội Ấn Độ cổ đại. Các vị thần trong Phật giáo như Hỏa thiên, Hỏa thần, Hỏa quang tôn (Hình 1) tương trưng cho sự giác ngộ và thanh tịnh có nguồn gốc từ thần lửa Agni trong Hindu giáo. Khi Phật giáo truyền vào các khu vực Tây Tạng, Trung Quốc (khoảng đầu công nguyên), các vị thần lửa nhập vào hệ thống Thập nhị Diêm vương. Trong đó, Phật giáo coi địa giới là một dạng biểu hiện duy thức (của mỗi người), người lên thiêng đàng hay xuống địa ngục là do nghiệp thúc đẩy. Các quan niệm về địa phủ gắn với ngục tốt bắt người là truyền thuyết dân gian không phải của Phật giáo. Thuật dùng lửa cũng trở thành một trong những pháp tu quan trọng của phái Mật tông, thiêu đốt đồ vật để cúng dường với ý nghĩa thiêu đốt u mê. Hình ảnh Văn thù Bồ tát tay cầm kiếm lửa là biểu tượng cho sức mạnh giác ngộ tiêu diệt sự ngu si (Hình 2). Thuật dùng lửa hướng tới sự giác ngộ, thanh tịnh là cơ sở hình thành tục hỏa táng ở một số quốc gia theo Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo tiểu thừa như Xri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (cộng đồng Khmer).

Đáng chú ý, nghi lễ thờ lửa của Phật giáo khi truyền vào Trung Quốc tiếp thu các tín ngưỡng bản địa đã hình thành tục đốt vàng mã, tục này về sau phổ biến ở Trung Quốc và Việt Nam. Ngay từ thời Hán việc chôn tiền theo người chết đã rất phổ biến, với quan niệm người chết biến thành quỷ, quỷ phải có tiền để sống, thế giới của quỷ cũng giống thế giới của người chỉ khác nhau về âm dương. Tục chôn tiền thật tốn kém về sau người ta cắt giấy thành tiền rồi đốt đi cho quỷ dùng, dần hình thành nên tục đốt vàng mã cho người chết. Như vậy, tục đốt vàng mã có nguồn gốc từ tín ngưỡng dân gian hòa nhập vào quá trình thực hành nghi lễ Phật giáo khiến nhiều người lầm tưởng đó là một nghi lễ của Phật giáo. Thực chất, tục đốt vàng mã không nằm phạm vi quan niệm và thực hành của Phật giáo. Ngoài ra, việc thần lửa có liên quan đến ông Táo, một vị gia thần đem lại phồn vinh hạnh phúc, thần hộ mệnh bảo vệ nhà cửa yên ổn v.v….

Đối với Việt Nam, chưa có quan điểm thống nhất về việc Phật giáo truyền vào nước ta theo con đường Bắc tông (Đại thừa) hay Nam tông (Tiểu thừa). Nhiều nguồn sử liệu cho thấy Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Phật giáo tiểu thừa Trung Quốc (Bắc tông). Quá trình giao lưu giữa hai nước diễn ra sớm, liên tục và lâu dài do đó nhiều tín ngưỡng, tôn giáo từ Trung Quốc được truyền vào nước ta đã sớm trở thành truyền thống tín ngưỡng, tôn giáo ở người Việt như: Thập điện diêm vương, Phật giáo mật tông, tục đốt mã, thờ ông Táo v.v… .

Nghi lễ về lửa và tục đốt mã ở người Việt qua các thời kỳ lịch sử

Ngay từ rất sớm, trong các di chỉ mộ táng của người Việt cổ đã tìm thấy những dấu tích về việc sử dụng lửa trong mai táng. Di chỉ mộ táng văn hóa Hòa Bình thời kỳ đồ đá mới (18.000 - 7.500 năm BP), tìm thấy một số di cốt có vết đốt cháy. Thời Hùng Vương, các nhà khảo cổ cũng tìm trong các thạp đồng, trống đồng chôn ở độ sâu khoảng 2-3m có chứa tro than, xương và răng người cháy dở. Đáng chú ý, ngay từ thời tiền sử và sơ sử, người Việt cổ đã có những ý niệm đầu tiên về một thế giới sau cái chết với tục chôn đồ tùy táng theo người chết phổ biến ở các di chỉ mộ cổ. Đây là cơ sở quan trọng để người Việt tiếp thu nghi lễ đốt vàng mã cho người chết từ Trung Hoa, ở các giai đoạn sau tục này phổ biến trong suốt thời kỳ phong kiến và tiếp tục duy trì cho đến hiện nay.

Một buổi sinh hoạt tôn giáo có sự tham gia của vàng mã (Ảnh của tác giả)

Thời Lý - Trần, Phật giáo là quốc giáo, thổ táng là xu hướng chính song trong tang ma mai táng giới quí tộc thường lựa chọn hình thức hỏa táng. Giới hoàng cung sử dụng một số nghi lễ Phật giáo trong tang ma, cúng giỗ như phóng sinh, bố thí, cầu siêu… nhưng chưa nói nhiều đến việc đốt mã.

Thời kỳ Lê, Nguyễn, nhà nước đề cao Nho giáo, tiếp thu tư tưởng Nho giáo trong tang ma, luật pháp thời kỳ này nghiêm cấm hình thức hỏa táng. Trong cả hai bộ luật Quốc triều hình luậtHoàng Việt luật lệ đều có các điều luật nghiêm cấm người dân tự xưng cư sĩ, đạo pháp tuyên truyền về hỏa ngục, phúc họa, tướng số… Nó cho thấy các quan niệm về địa phủ, hỏa ngục có ảnh hưởng sâu sắc trong dân chúng.

Đặc biệt, trong các tác phẩm của Alexande De Rhode (thế kỷ XVII) mô tả khá chi tiết về tục đốt mã của người Việt. Theo ông, người Việt đốt mã cho người chết vào các dịp sau khi mất, giỗ, cuối năm và tháng 6 âm lịch, tục này phổ biến khắp cả nước từ người giàu cho đến người nghèo.  Đối với Đàng ngoài: “Họ đua nhau dựng nhà, sắm các dụng cụ bếp núc làm bằng tre nứa và giấy hoa rồi đem đi đốt… nhà quyền quý làm riêng những việc rất tốn phí… Khi một người có quyền thế và giàu có qua đời thì những người thừa kế dựng một lâu đài giữa đồng bằng vật liệu sơ sài và có thể thiêu đốt dễ dàng được, tất cả đều được trang trí và vẽ nhiều hình tượng, họ làm bàn ghế, giường, tủ và những đồ vật thường dùng trong nhà cùng những hình nổi cũng bằng vật liệu nhẹ, như voi, ngựa, chó, mèo… tất cả hàng mã này châm lửa đốt… họ tin rằng hồn người quá cố sẽ nhận được tất cả những đồ vật còn nguyên vẹn ở cái thế giới mà họ tới”.

Vào tháng Bảy âm lịch: “Người Đàng Ngoài có tục… đốt áo hoa… cho người nghèo bị bỏ rơi dùng… để giúp cô hồn bơ vơ…”.

Đối với Đàng Trong: A. Rhodes cho biết trong lễ cúng vong linh tổ tiên của các chúa Nguyễn có nghi lễ đốt mã. “… một vị thượng tọa cử hành các nghi lễ bên cạnh bàn thờ. Rồi sau khi thượng tọa đọc những lời chẳng ai hiểu thì đốt mấy con ngựa giấy với mấy khẩu đại bác cùng bằng giấy…”

Trong tập Kỷ sử hải ngoại của Thích Đại Sán có nói đến đàn Hỏa diệm và việc đốt bùa trong nghi lễ cầu tạnh dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu.

Trong một số tác phẩm khảo cứu về phong tục của người Việt, các tác giả Phan Kế Bính, Toan Ánh cho rằng lễ Vu Lan của người Việt được tiếp thu từ tư tưởng Phật giáo. Lễ này được tổ chức vào dịp rằm tháng Bảy với quan niệm là ngày xá tội vong nhân, các tội nhân dưới âm phủ được tha tội, nên ở dương thế mọi gia đình làm cỗ và đốt mã cúng gia tiên, hoặc cúng cháo cho các linh hồn lang thang…

 Như vậy, nghi lễ đốt vàng mã từ lâu đã trở thành hình thức thực hành phổ biến trong truyền thống tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt. Tục đốt vàng mã cùng một số nghi lễ thờ lửa được người Việt tiếp thu chủ yếu từ quá trình giao thoa văn hóa với Trung Hoa, do đó nó mang nhiều điểm tương đồng với Phật giáo Trung Hoa. Trong đó, những quan niệm của người Việt cổ về một thế giới sau cái chết và tục chôn đồ tùy táng theo người chết có từ thời tiền sử những cơ sở quan trọng để người Việt tiếp thu tục đốt vàng mã từ của người Trung Quốc. Không chỉ dừng ở đó, sự phát triển và ngày càng phổ biến của nó trong nhiều giai đoạn lịch sử, cho đến nay tục đốt vàng mã vẫn giữ vai trò quan trọng trong tâm thức cũng như trong thực hành nghi lễ tôn giáo của người Việt hiện nay.

Quan điểm về tục đốt mã của người Việt - nhìn từ các bên

Hệ thống văn bản luật pháp của Nhà nước

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, vấn đề loại bỏ vàng mã đã được nhiều lần được đặt ra. Đầu tiên là trong Phong trào Chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc do Giáo hội Phật giáo Bắc kỳ khởi xướng (1935 - 1954). Với các biện pháp giáo dục tuyên truyền, ở thời điểm đó phong trào đã tạo ra những hiệu ứng tích cực cho đời sống Phật giáo ở miền Bắc.

Vấn đề này trở lại vào năm 1975 khi nước ta bước vào giai đoạn thống nhất đất nước. Cùng với chủ trương, chính sách tôn trọng quyền tự do tôn giáo, nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt đối với các hoạt động thực hành tín ngưỡng, tôn giáo trên tinh thần đề cao gìn giữ các truyền thống thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Năm 1975, Chính phủ ban hành Quyết định 56-CP ngày 18-3-1975 của Hội đồng chính phủ “Về việc ban hành thể lệ về tổ chức việc cưới, vịêc tang, ngày giỗ, ngày hội”. Trong đó các quy định về liên quan đến tang ma nêu rõ: “Xóa bỏ tục đốt vàng mã, tục treo đặt các đồ tang phục như khăn tang, mũ nùn rơm trên bàn thờ, tục yểm bùa”.

Sau Đổi mới, cùng với những thành tựu phát triển về kinh tế - xã hội, đời sống người dân được nâng cao, nhu cầu thực hành nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo trong đó thực hành đốt vàng mã bùng phát trở lại. Trước tình hình đó, Nhà nước ban hành nhiều văn bản văn bản về vấn đề thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Đó là: Chỉ thị số 27/CT-TW của Bộ chính trị, Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ (1998); Quyết định 308/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm (2005); Thông tư 04/2011/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2011).

Đặc biệt, năm 2016 Luật tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành, trong đó vấn đề quản lý, kiểm soát các hành vi thực hành nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo chủ yếu dựa trên một số nguyên tắc chung:

Hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng phải bảo đảm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Việc tổ chức hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng phải bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, bảo vệ môi trường. Trong đó, việc kết hợp giữa văn bản luật pháp và một số quy định hành chính của Nhà nước như Nghị định 158/2013/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 75/2010/ NĐ -CPnhằm xử phạt hành chính đối với hành vi đốt vàng mã chưa cho thấy tính hiệu quả. Thứ nhất, Nghị định quy định mức phạt đối với các hành vi đốt vàng mã sai quy định (tại nơi tổ chức lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa, nơi công cộng khác) là hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng - 01 triệu đồng, mức phạt hiện nay giảm xuống còn 200.000 - 500.000. Thứ hai, Nghị định chưa có quy định về cấm hoàn toàn việc đốt vàng mã tại các nơi thờ tự nói chung như đền, chùa, đình, miếu, phủ… trong khi việc đốt vàng mã diễn ra thường xuyên và chủ yếu ở các không gian tôn giáo này.

Những phân tích trên cho thấy trong vấn đề đốt vàng mã, để hạn chế, kiểm soát tiến tới loại bỏ đối với hình thức thực hành này cần có thêm những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các văn bản luật pháp của Nhà nước.     

 Quan điểm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trong những năm gần đây Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có nhiều hành động quyết liệt nhằm chấn chỉnh các hoạt động lệch chuẩn tâm linh Phật giáo bao gồm nghi lễ đốt vàng mã. Trong một trao đổi gần đây, đại diện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục kiên trì với quan điểm khẳng định đốt vàng mã không có trong giáo lý Phật giáo.

“Đốt vàng mã thực chất chỉ là tín ngưỡng xa xưa, hoàn toàn không có trong Giáo lý Phật giáo. Trong các kinh sách Phật giáo đều không đề cập đến việc đốt vàng mã. Tất cả hệ phái Phật giáo Nguyên thủy tại Ấn độ, Thái Lan, Srilanka, Tích Lan đều không có tục đốt vàng mã”.

Trên thực tế, Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay đang tích cực triển khai các biện pháp nhằm thúc đẩy ngăn ngừa việc đốt vàng mã tại các cơ sở tôn giáo của Phật giáo.

Trước hết, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh, tiết kiệm tại các nơi thờ tự, các dịp lễ hội của Phật giáo. Đồng thời ban hành riêng một công văn số 31/CV-HĐTS đề nghị loại bỏ tục đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo. Trên cơ sở đó, Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự các tỉnh, thành phố đã ban hành văn bản khuyến nghị các chùa, tự viện trên địa bàn thực hiện nghiêm hướng dẫn của Trung ương Giáo hội, tăng cường các biện pháp giải thích, giáo dục đối với tín đồ và nước người dân về vấn đề đốt vàng mã và những tác hại tiêu cực của nó gây ra. Đặc biệt, tại các chùa, tự viện cho gắn các biển hiệu thông báo không cho mang vàng mã vào chùa, không đốt vàng mã tại chùa, tuyên truyền rộng rãi cho bà con trong thực hành cúng giỗ tổ tiên tại gia đình, v.v…

Có thể nhận thấy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có các biện pháp tích cực, kết hợp chặt chẽ giữa chủ trương và thực thi nhằm nêu cao vai trò trách nhiệm của cơ sở tôn giáo, tăng sư trong thực thi. Tuy nhiên, biện pháp chủ yếu vẫn là giáo dục tuyên truyền đối với người dân và các tín đồ Phật giáo.

Quan điểm của giới nghiên cứu

GS. Từ Chi, một chuyên gia nghiên cứu nhân học tôn giáo đã có những khảo cứu công phu về cõi sống và cõi chết trong nhân sinh quan, thế giới quan của người Mường, với nhiều lễ nghi, phẩm vật dâng cúng liên quan trong quá trình chuyển tải qua lại giữa hai thế giới. Tác giả cho rằng, tang lễ trong mọi nghi lễ lớn của các dân tộc, trên lễ tiết, những quan niệm về vũ trụ và nhân sinh quen thuộc của dân tộc. Dù không thiếu chỗ lệch lạc nhưng các quan niệm ấy đã bắt rễ lâu đời vào tâm khảm của người dân, là chất liệu góp phần xây dựng nên mối cộng cảm của một dân tộc. Giáo sư khẳng định: không thể sớm muộn giải quyết, xóa bỏ nó trong ngày một ngày hai được, đặc biệt là bằng con đường và những biện pháp hành chính.

TS. Trần Đình Hằng trong một nghiên cứu gần đây về cội nguồn của tục đốt vàng mã, tác giả chỉ ra các chiều kích về truyền thống luân lý, đặc biệt là chức năng an ninh tinh thần đem lại sự an tâm cho người dân. Điều này khiến cho các biện pháp của Nhà nước nhằm loại bỏ nghi lễ đốt vàng mã trong đời sống xã hội là hết sức khó khăn. Tác giả đồng thời đưa ra các gợi ý, để thực hiện điều này Nhà nước cần phải có các biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giữa luật pháp với truyền thống luân lý, từ đó mới mong có được sự đồng thuận của người dân đối với các chính sách, luật pháp của nhà nước.

Tương tự, TS. Lê Tâm Đắc trong một nghiên cứu về vấn đề vàng mã giai đoạn Chấn hưng Phật giáo (1935-1954), tác giả có đồng quan điểm khi cho rằng đối với vấn đề vàng mã, việc giáo dục, tuyên tuyền là một biện pháp phù hợp và đem lại hiệu quả.

Chiếc xe máy vàng mã giống như thật sẽ được đốt để "người cõi âm" có cái đi chơi tết (!) Ảnh của tác giả

Một số kiến nghị

Trước khi đưa ra những kiến nghị về vấn đề này, chúng tôi muốn cung cấp một con số mặc dù là số liệu cũ, hiện nay con số này có thể lớn hơn nhiều lần song nó thực sự khiến chúng ta phải suy ngẫm.

Theo tác giả Lê Tâm Đắc cung cấp (2006): Mỗi năm cả nước ta tiêu tốn khoảng 50.000 tấn giấy, tương đương với 200 tỷ đồng trong chi phí sản xuất ra vàng mã, việc đốt vàng mã tiêu tốn khoảng 1000 tỷ đồng tương đương với số nguồn lực tài chính trong dân chúng.

Gần đây, Việt Nam và nhiều nước trên thế giới chứng kiến hàng loạt các thảm họa thiên nhiên trong đó một trong những nguyên nhân là sự thu hẹp của diện tích rừng, nguồn tài nguyên bị khai thác tận diệt v.v… Kéo theo những thảm họa thiên nhiên là số người thiết mạng, nhiều đồng bào phải hứng chịu thảm cảnh mất của nhà, tài sản, ruộng vườn bị tàn phá… cuộc sống hết sức khổ cực bi đát.

Hiện nay, môi trường đã trở thành vấn đề báo động, trong đó hàng trăm tấn giấy được sử dụng vào việc sản xuất vàng mã cũng góp phần quan trọng trong việc hủy hoại đất rừng và môi trường thiên nhiên. Do đó, trong biện pháp giáo dục, tuyên truyền, song song với việc giáo dân người dân thấy rõ vàng mã không phải có nguồn gốc từ Phật giáo, những tác hại của nó đối với môi trường sẽ là nội dung quan trọng góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề vàng mã.

Đối với vấn đề vàng mã, nếu như trước đây chúng ta đứng trước bài toán giữa truyền thống luân lý và luật pháp như một số học giả đã nêu thì hiện nay vấn đề bảo vệ môi trường môi sinh và sự an toàn của người dân hơn hết cần được phải được tính đến. Do đó, nếu thông qua tuyên truyền, giáo dục người dân sẽ thấy được ý nghĩa to lớn của việc loại bỏ tục đốt vàng mã.

Cần phải huy động nhiều hơn nữa sự tham gia và trách nhiệm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Bên cạnh việc quán triệt chủ trương, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện như hiện nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên kết hợp giữa các biện pháp triển khai với thiết chế quản lý, trong đó thông qua các điều lệ, cam kết nêu cao trách nhiệm thực hiện của các cơ sở Phật giáo trong vấn đề này. Thí dụ, quy định bắt buộc đối với việc gắn biển hiệu “Không đốt vàng mã” ở tất cả các cơ sở Phật giáo; Xây dựng điều lệ trong thực hành nghi lễ tôn giáo, thực hiện cam kết bằng văn bản không đốt vàng mã tại các cơ sở Phật giáo… bên cạnh biện pháp giáo dục tuyên truyền.

Về mặt thiết chế nhà nước, các cơ quan chủ quản địa phương tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, đặc biệt là lĩnh vực quản lý văn hóa - tôn giáo, phong chống cháy nổ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường v.v… Bên cạnh đó, các cơ quan chủ quản phải xây dựng được mối quan hệ gắn kết bền chặt với các cơ sở tôn giáo và người dân để có được sự đồng thuận trong quá trình thực thi chủ trương, chính sách nhằm hạn chế tiến tới loại bỏ vấn đề vàng mã trong thực hành nghi lễ Phật giáo.   

Ngoài ra, một số ý kiến cũng cho rằng trong hệ thống luật pháp cần có thêm quy định cấm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh vàng mã, đồng thời loại bỏ ngành hàng này ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh (hiện nay sản xuất vàng mã đang là loại hàng đặc biệt chịu mức đánh thuế 70%). Ý kiến cho rằng, việc làm có ý nghĩa ngăn chặn tận gốc hình thức đốt vàng mã trong xã hội.

Trong các phương pháp nêu trên, một lần nữa chúng tôi khẳng định giáo dục, tuyên truyền luôn là biện pháp quan trọng, lâu dài trong mọi tiến trình thực hiện triển khai chính sách, luật pháp của nhà nước nói chung và trong vấn đề loại bỏ tục đốt vàng mã nói riêng.

                                                                                                            Theo NCS Trương Thúy Trinh (Viện Nghiên cứu Tôn giáo)

 

Bài viết cùng chuyên mục

Mỹ: Xe tự lái chỉ có thể giúp ngăn 1/3 số vụ tai nạn

Theo một báo cáo của Viện Bảo hiểm An toàn Đường cao tốc Mỹ (IIHS), xe ô tô tự lái chỉ có thể giúp các tài xế tránh được 1/3 số vụ tai nạn tại quốc gia này.

Sông Tô Lịch và huyền tích

Ngày xưa, sông Tô lịch là một nhánh của con sông Hồng, có nhiều tên gọi khác như Lai Tô, Hương Bảo… với dòng nước trong xanh, uốn lượn bao quanh kinh thành Thăng Long như một bức tranh họa đồ,...

Bí ẩn nọc độc chết người của loài sứa khổng lồ chưa có lời giải

Các nhà khoa học đến nay vẫn chưa biết chính xác về loại nọc độc chết người cực phức tạp của sứa khổng lồ Nemopilema nomurai.