Phát triển nguồn nhân lực văn hóa, nghệ thuật - nền tảng cho chiến lược văn hóa
Muốn công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, chúng ta phải chuyển từ tư duy "có người làm văn hóa" sang tư duy "phát triển đội ngũ kiến tạo giá trị văn hóa". Đó là đội ngũ vừa có căn cốt văn hóa dân tộc, vừa có năng lực sáng tạo hiện đại; vừa hiểu di sản, vừa hiểu công nghệ; vừa biết giữ gìn bản sắc, vừa biết đưa bản sắc ấy đi vào thị trường một cách văn minh, chuyên nghiệp và bền vững.

Một nền văn hóa muốn trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước thì trước hết phải có những con người đủ năng lực để sáng tạo, quản trị, lan tỏa và chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh xã hội, sức mạnh kinh tế, sức mạnh mềm quốc gia. Ảnh: VGP/Minh Thư
PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã nhấn mạnh nội dung trên khi trao đổi với phóng viên Báo điện tử Chính phủ. Ông cũng cho biết, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã phân tích, làm rõ những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo hiện nay, coi đây là nền tảng để xây dựng Chiến lược quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Xây dựng "hệ sinh thái" nhân lực văn hóa
Nhắc đến thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo hiện nay, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, khi bàn về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới, vấn đề nhân lực phải được nhìn như một vấn đề chiến lược, chứ không chỉ là câu chuyện biên chế, đào tạo hay tuyển dụng đơn thuần. Một nền văn hóa muốn trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước thì trước hết phải có những con người đủ năng lực để sáng tạo, quản trị, lan tỏa và chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh xã hội, sức mạnh kinh tế, sức mạnh mềm quốc gia.
Thực tế hiện nay, nguồn nhân lực văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo của chúng ta có nhiều tiềm năng nhưng chưa thật sự mạnh, chưa đồng đều và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công nghiệp văn hóa trong bối cảnh mới. Chúng ta có nhiều nghệ sĩ tài năng, nhiều nghệ nhân tâm huyết, nhiều bạn trẻ sáng tạo, nhiều cán bộ văn hóa cơ sở tận tụy. Nhưng nếu nhìn trên tổng thể, vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa tiềm năng con người Việt Nam với năng lực tổ chức, khai thác và phát triển thành sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu văn hóa có sức cạnh tranh.
Hạn chế đầu tiên là cơ cấu nhân lực còn mất cân đối. Ở nhiều nơi, chúng ta thiếu những nhân lực có khả năng kết nối giữa sáng tạo nghệ thuật với công nghệ, kinh doanh, truyền thông, bản quyền, dữ liệu, thị trường và quốc tế hóa sản phẩm. Công nghiệp văn hóa không chỉ cần nghệ sĩ biểu diễn, nhà văn, họa sĩ, đạo diễn, diễn viên, nghệ nhân, mà còn cần nhà sản xuất, giám tuyển, quản lý dự án, chuyên gia marketing văn hóa, chuyên gia pháp lý về sở hữu trí tuệ, kỹ sư công nghệ sáng tạo, chuyên gia dữ liệu văn hóa, nhà thiết kế trải nghiệm, người làm truyền thông số, người tổ chức lễ hội, người phát triển thị trường. Đây chính là những mắt xích còn thiếu hoặc còn yếu trong chuỗi giá trị văn hóa của chúng ta.
Hạn chế thứ hai là đào tạo còn chậm đổi mới so với tốc độ thay đổi của đời sống sáng tạo. Không ít chương trình đào tạo vẫn thiên về chuyên môn hẹp, chưa chú trọng đúng mức đến tư duy liên ngành, kỹ năng số, năng lực khởi nghiệp sáng tạo, quản trị bản quyền, kinh tế văn hóa và khả năng làm việc trong môi trường toàn cầu. Trong khi đó, thực tiễn đang thay đổi rất nhanh. Một tác phẩm hôm nay không chỉ sống trên sân khấu, phòng tranh, rạp chiếu hay trang sách, mà còn sống trên nền tảng số, mạng xã hội, các không gian trải nghiệm, du lịch văn hóa, game, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo và các mô hình kinh tế mới. Nếu đào tạo không đi cùng sự thay đổi ấy, nhân lực văn hóa sẽ bị tụt lại phía sau ngay trong chính lĩnh vực mà họ cần dẫn dắt.
Hạn chế thứ ba là môi trường làm nghề còn chưa đủ hấp dẫn để người tài yên tâm cống hiến lâu dài. Văn hóa là lĩnh vực cần đam mê, nhưng không thể chỉ sống bằng đam mê. Nhiều người làm văn hóa, nghệ thuật, nhất là ở cơ sở, trong các đơn vị nghệ thuật truyền thống, bảo tàng, thư viện, thiết chế văn hóa công lập, đang chịu áp lực lớn về thu nhập, điều kiện sáng tạo, cơ hội nghề nghiệp và sự ghi nhận xã hội. Với khu vực sáng tạo tư nhân, nhiều bạn trẻ năng động nhưng lại thiếu cơ chế hỗ trợ ban đầu, thiếu vốn, thiếu không gian thử nghiệm, thiếu tư vấn pháp lý, thiếu nền tảng phân phối và thường phải tự bơi trong thị trường còn nhiều rủi ro.
Hạn chế thứ tư là dữ liệu về nhân lực văn hóa còn phân tán. Chúng ta nói nhiều đến phát triển công nghiệp văn hóa nhưng lại chưa có hệ thống dữ liệu đầy đủ, thường xuyên, cập nhật về số lượng, chất lượng, kỹ năng, thu nhập, phân bố ngành nghề, nhu cầu tuyển dụng và mức độ thiếu hụt nhân lực. Không có dữ liệu tốt thì rất khó hoạch định chính sách đúng, khó biết ngành nào đang thiếu, địa phương nào đang yếu, nhóm nào cần đào tạo lại, kỹ năng nào cần ưu tiên.
"Theo tôi, "điểm nghẽn" lớn nhất hiện nay là chúng ta chưa thật sự xây dựng được hệ sinh thái nhân lực văn hóa theo logic của công nghiệp sáng tạo. Nói cách khác, đào tạo còn tách rời thị trường; sáng tạo còn tách rời sản xuất; nghệ thuật còn tách rời công nghệ; bảo tồn còn tách rời khai thác giá trị; quản lý nhà nước còn chưa theo kịp mô hình vận hành mới của kinh tế sáng tạo. Khi các khâu ấy chưa liên thông, nhân lực văn hóa dù có tài năng vẫn khó phát huy hết vai trò.
Muốn công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, chúng ta phải chuyển từ tư duy "có người làm văn hóa" sang tư duy "phát triển đội ngũ kiến tạo giá trị văn hóa". Đó là đội ngũ vừa có căn cốt văn hóa dân tộc, vừa có năng lực sáng tạo hiện đại; vừa hiểu di sản, vừa hiểu công nghệ; vừa biết giữ gìn bản sắc, vừa biết đưa bản sắc ấy đi vào thị trường một cách văn minh, chuyên nghiệp và bền vững", PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội
Chiến lược phát triển nhân lực văn hóa: Trọng tâm là con người và năng lực sáng tạo
"Tôi rất đồng tình với việc lồng ghép nhiệm vụ phát triển nhân lực văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo vào Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Điều này cho thấy một nhận thức rất quan trọng: không thể có chiến lược văn hóa lớn nếu không có chiến lược con người tương xứng. Văn hóa không tự lớn lên bằng khẩu hiệu. Văn hóa lớn lên bằng tài năng, bằng thể chế, bằng môi trường sáng tạo, bằng năng lực tổ chức và bằng những con người cụ thể biết biến giá trị thành sức sống", PGS.TS Bùi Hoài Sơn bày tỏ.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Chiến lược cần ưu tiên ít nhất năm nhóm nhân lực:
Thứ nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là ở địa phương và cơ sở. Trong mô hình quản trị mới, cán bộ văn hóa không chỉ làm nhiệm vụ hành chính, phong trào hay tổ chức sự kiện, mà phải trở thành người kiến tạo môi trường văn hóa, biết huy động nguồn lực xã hội, biết kết nối di sản với du lịch, giáo dục, truyền thông, công nghệ và sinh kế cộng đồng. Nếu cán bộ quản lý không đổi mới, nhiều chính sách rất đúng cũng khó đi vào cuộc sống.
Thứ hai là đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, người thực hành di sản. Đây là lực lượng giữ hồn cốt văn hóa dân tộc. Với họ, chính sách không chỉ là đào tạo nghề mà còn là bảo đảm điều kiện sáng tạo, truyền nghề, tôn vinh, chăm sóc, hỗ trợ thế hệ kế cận. Đặc biệt, nghệ thuật truyền thống, di sản phi vật thể, văn hóa các dân tộc thiểu số rất cần một chính sách nhân lực riêng, bởi nếu mất người thực hành thì di sản sẽ mất môi trường sống.
Thứ ba là nhân lực công nghiệp văn hóa và sáng tạo: điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, thời trang, mỹ thuật, nhiếp ảnh, trò chơi điện tử, nội dung số, quảng cáo, xuất bản, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, ẩm thực, truyền thông đa phương tiện. Đây là nhóm có khả năng tạo ra sản phẩm, dịch vụ, việc làm, doanh thu, xuất khẩu văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Nhưng họ cần được đào tạo theo chuỗi giá trị, từ ý tưởng, sản xuất, quản trị dự án, bảo hộ bản quyền, gọi vốn, truyền thông, phân phối đến thương mại hóa.
Thứ tư là nhân lực văn hóa – công nghệ. Kỷ nguyên số đang làm thay đổi căn bản cách con người sáng tạo, lưu giữ, phân phối và tiêu dùng văn hóa. Vì vậy, chúng ta cần đội ngũ biết số hóa di sản, vận hành bảo tàng số, thư viện số, không gian văn hóa số, ứng dụng AI, dữ liệu lớn, thực tế ảo, thực tế tăng cường, blockchain, nền tảng số vào sáng tạo và bảo vệ bản quyền. Đây sẽ là lực lượng rất quan trọng để văn hóa Việt Nam không chỉ hiện diện trong đời sống vật lý mà còn có vị trí xứng đáng trong không gian số toàn cầu.
Thứ năm là doanh nhân văn hóa, nhà quản trị sáng tạo, người sáng lập start-up văn hóa, người vận hành không gian sáng tạo, quỹ văn hóa, trung tâm sáng tạo, doanh nghiệp nội dung số. Họ là cầu nối giữa tài năng sáng tạo và thị trường. Một ý tưởng hay nếu không có nhà sản xuất giỏi, nhà quản trị giỏi, mô hình kinh doanh phù hợp thì rất khó đi xa.
Gắn kết đào tạo nhân lực văn hóa với nhu cầu thực tiễn của thị trường
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng để gắn kết đào tạo nhân lực văn hóa với nhu cầu thực tiễn của thị trường và sự phát triển của công nghiệp sáng tạo cần thay đổi cách làm. Trước hết, phải xây dựng bản đồ nhu cầu nhân lực văn hóa theo từng ngành, từng vùng, từng địa phương. Không thể đào tạo chung chung rồi để sinh viên tự tìm đường. Mỗi ngành công nghiệp văn hóa phải có dự báo nhu cầu nhân lực 5 năm, 10 năm; mỗi địa phương có tiềm năng di sản, du lịch, lễ hội, làng nghề, thiết kế, âm nhạc, điện ảnh, game hay nội dung số cũng phải biết mình cần loại nhân lực nào.
Thứ hai, chương trình đào tạo phải được thiết kế cùng doanh nghiệp, đơn vị nghệ thuật, bảo tàng, nhà hát, hãng phim, nền tảng công nghệ, không gian sáng tạo và các tổ chức nghề nghiệp. Sinh viên văn hóa, nghệ thuật không thể chỉ học trong lớp. Họ cần học bằng dự án thật, sản phẩm thật, thị trường thật, khán giả thật. Các trường văn hóa, nghệ thuật cần có học kỳ doanh nghiệp, xưởng sáng tạo, phòng thí nghiệm nội dung số, chương trình thực tập dài hạn, đặt hàng sáng tác, đặt hàng sản xuất sản phẩm văn hóa.
Thứ ba, cần phát triển các chương trình đào tạo liên ngành: văn hóa với công nghệ, nghệ thuật với kinh doanh, di sản với du lịch, thiết kế với thương mại điện tử, truyền thông với dữ liệu, điện ảnh với nền tảng số. Nhân lực sáng tạo của tương lai không thể chỉ biết một kỹ năng đơn tuyến. Họ phải có năng lực cộng tác, tư duy hệ thống, khả năng kể chuyện bằng nhiều ngôn ngữ biểu đạt và năng lực thích ứng rất nhanh với công nghệ mới.
Thứ tư, cần coi đào tạo lại và học tập suốt đời là một phần của chiến lược. Rất nhiều cán bộ, nghệ sĩ, nghệ nhân, người làm nghề hiện nay không có điều kiện quay lại trường học dài hạn, nhưng họ rất cần các khóa ngắn hạn, chứng chỉ nghề, chương trình cập nhật kỹ năng số, bản quyền, quản trị dự án, truyền thông số, gọi vốn, xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Chính sách nhân lực văn hóa phải mở ra cơ hội học tập liên tục, linh hoạt và thực chất.
Hoàn thiện cơ chế thu hút, đãi ngộ và phát triển tài năng văn hóa
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, muốn thu hút và giữ chân tài năng văn hóa, trước hết phải thay đổi cách nhìn về tài năng. Tài năng văn hóa, nghệ thuật không phải là "phần trang trí" của đời sống xã hội. Họ là những người tạo ra biểu tượng, ký ức, cảm xúc, niềm tin, bản sắc và sức hấp dẫn quốc gia. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững không chỉ cần kỹ sư, nhà khoa học, doanh nhân, mà còn cần nghệ sĩ lớn, nhà văn lớn, đạo diễn lớn, nhà thiết kế lớn, nghệ nhân lớn, nhà quản trị văn hóa lớn, những người có khả năng kể câu chuyện Việt Nam với thế giới bằng ngôn ngữ của thời đại.
Cơ chế đầu tiên là đãi ngộ xứng đáng và phân loại đúng đối tượng. Không thể có một chính sách bình quân cho mọi loại hình tài năng. Nghệ sĩ biểu diễn, nghệ nhân dân gian, nhà nghiên cứu, nhà thiết kế, đạo diễn, nhà sản xuất, người sáng tạo nội dung số, chuyên gia công nghệ văn hóa có đặc thù nghề nghiệp khác nhau. Cần có cơ chế phát hiện, bồi dưỡng, đặt hàng, tài trợ, học bổng, giải thưởng, nhà ở công vụ hoặc hỗ trợ không gian làm việc, bảo hiểm nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe đặc thù, đặc biệt với các ngành nghệ thuật có cường độ lao động cao.
Cơ chế thứ hai là đặt hàng sáng tạo và tài trợ cạnh tranh minh bạch. Nhà nước không nên chỉ hỗ trợ theo đầu đơn vị, mà cần đặt hàng sản phẩm, chương trình, dự án, tác phẩm, nền tảng, mô hình sáng tạo có mục tiêu rõ ràng. Cùng với đó, cần hình thành quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình công – tư, có hội đồng chuyên môn độc lập, tiêu chí minh bạch, đánh giá bằng chất lượng, tác động xã hội, năng lực lan tỏa và khả năng phát triển thị trường. Khi người tài thấy có cơ hội được tin tưởng, được thử nghiệm, được thất bại có kiểm soát và được ghi nhận công bằng, họ sẽ ở lại.
Cơ chế thứ ba là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi nghề nghiệp. Một trong những nguyên nhân khiến tài năng rời bỏ lĩnh vực văn hóa là sáng tạo không được trả công xứng đáng, bản quyền bị xâm phạm, hợp đồng nghề nghiệp thiếu minh bạch. Nếu không bảo vệ được tài sản sáng tạo thì rất khó khuyến khích sáng tạo. Vì vậy, phải hoàn thiện pháp luật về bản quyền, tăng thực thi trên môi trường số, hỗ trợ pháp lý cho nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nghiệp sáng tạo, đồng thời xây dựng văn hóa tôn trọng bản quyền trong xã hội.
Cơ chế thứ tư là mở rộng không gian phát triển nghề nghiệp. Người tài cần môi trường. Môi trường ấy bao gồm nhà hát, rạp chiếu, bảo tàng, thư viện, trung tâm sáng tạo, không gian công cộng, nền tảng số, liên hoan, chợ dự án, sàn giao dịch sản phẩm văn hóa, chương trình lưu trú sáng tạo, mạng lưới quốc tế. Nếu không có không gian để thử nghiệm và trình diễn, tài năng sẽ bị thu hẹp trong những cơ hội nhỏ lẻ. Thu hút người tài không chỉ là tăng lương, mà còn là trao cho họ một chân trời sáng tạo rộng hơn.
Cơ chế thứ năm là liên thông công – tư và trong nước – quốc tế. Nhiều nhân lực giỏi đang làm ở khu vực tư nhân, các nền tảng số, doanh nghiệp sáng tạo, tổ chức quốc tế. Chính sách cần cho phép huy động họ tham gia nhiệm vụ công, dự án văn hóa quốc gia, đào tạo, cố vấn, giám tuyển, sản xuất các sản phẩm văn hóa trọng điểm mà không bị ràng buộc bởi tư duy biên chế cứng. Đồng thời, cần có chương trình thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, nghệ sĩ quốc tế, chuyên gia công nghệ, nhà sản xuất lớn hợp tác với Việt Nam để nâng chuẩn nhân lực trong nước.
Định hình bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nhân lực công nghiệp văn hóa
Về chỉ tiêu đo lường cho phát triển nhân lực văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo, PTS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng cần tránh cách làm chỉ đếm số lớp tập huấn, số hội nghị, số chứng chỉ. Những chỉ tiêu ấy cần nhưng chưa đủ. Phát triển nhân lực văn hóa phải được đo bằng kết quả, bằng năng lực thực tế và bằng tác động đến đời sống văn hóa, thị trường văn hóa.
Có thể đặt ra một số nhóm chỉ tiêu. Nhóm thứ nhất là chỉ tiêu về quy mô và chất lượng nhân lực: tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp văn hóa, tỷ lệ nhân lực qua đào tạo chuyên môn, tỷ lệ nhân lực được đào tạo lại về kỹ năng số, quản trị sáng tạo, bản quyền, ngoại ngữ, công nghệ; số lượng chuyên gia đầu ngành, nghệ nhân, văn nghệ sĩ, nhà quản trị sáng tạo được phát hiện, bồi dưỡng, hỗ trợ.
Nhóm thứ hai là chỉ tiêu về đào tạo và việc làm: tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp các ngành văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo có việc làm đúng hoặc gần đúng chuyên môn; số chương trình đào tạo liên ngành văn hóa – nghệ thuật – công nghệ – kinh doanh; số cơ sở đào tạo có hợp tác thường xuyên với doanh nghiệp, nhà hát, bảo tàng, hãng phim, nền tảng số; số dự án tốt nghiệp trở thành sản phẩm, dịch vụ hoặc start-up sáng tạo.
Nhóm thứ ba là chỉ tiêu về thu nhập và điều kiện làm nghề: mức thu nhập bình quân của nhân lực văn hóa so với mặt bằng chung; tỷ lệ người làm nghề có hợp đồng, bảo hiểm, được bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan; số không gian sáng tạo, quỹ hỗ trợ, chương trình đặt hàng, chương trình lưu trú sáng tạo được vận hành hiệu quả.
Nhóm thứ tư là chỉ tiêu về đóng góp của nhân lực vào công nghiệp văn hóa: số lượng sản phẩm văn hóa có bản quyền được thương mại hóa; doanh thu từ sản phẩm, dịch vụ văn hóa; giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa; số thương hiệu văn hóa, liên hoan, lễ hội, sản phẩm sáng tạo có khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế; số doanh nghiệp, start-up, dự án sáng tạo do nhân lực Việt Nam dẫn dắt.
Nhóm thứ năm là chỉ tiêu về công bằng vùng miền và bảo tồn bản sắc: số nghệ nhân được hỗ trợ truyền nghề; số lớp kế cận trong nghệ thuật truyền thống; số nhân lực văn hóa ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đào tạo, bồi dưỡng; số mô hình di sản gắn với sinh kế cộng đồng có sự tham gia trực tiếp của người dân.
Tựu trung lại, phát triển nhân lực văn hóa không chỉ là chuẩn bị người cho ngành văn hóa. Đó là chuẩn bị năng lực tinh thần, năng lực sáng tạo và năng lực cạnh tranh của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Khi chúng ta biết trọng dụng người tài, bảo vệ sáng tạo, kết nối đào tạo với thị trường và đo lường bằng kết quả thực chất, văn hóa Việt Nam sẽ không chỉ được gìn giữ, mà còn được làm mới, được lan tỏa và trở thành một trong những động lực quan trọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Minh Thư
(theo baochinhphu.vn)
Nguồn: https://baochinhphu.vn/phat-trien-nguon-nhan-luc-van-hoa-nghe-thuat-nen-tang-cho-chien-luoc-van-hoa-102260626141234981.htm
Bài viết cùng chuyên mục
- Đề xuất Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế
- Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam: Khẳng định vị thế đầu ngành, lan tỏa giá trị tinh hoa mỹ thuật nước nhà
- Triển lãm 'Giao thời': Khám phá những giá trị văn hóa qua 3D Mapping
- Hà Nội tiếp nhận quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì và Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
- Sửa đổi Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam
- Từ Bến Ninh Kiều đến Đất Sen hồng: Những ngày hội níu chân du khách
- Những điểm mới tại Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn 2026



